Người biết chữ Hán thì làm việc gì cũng dễ

Người biết chữ Hán làm việc gì cũng dễ

Tính biểu ý là đặc điểm chủ yếu nhất của chữ Hán. Hầu hết chữ viết trên thế giới đều là chữ biểu âm (phonograph, còn goi là chữ ghi âm, chữ phiên âm), riêng chữ Hán là chữ biểu ý (ideograph, còn gọi là chữ ghi ý).

Hán ngữ có đặc điểm là ngôn ngữ âm thanh (tiếng nói) không quan trọng bằng ngôn ngữ thị giác (tự hình, tức hình dạng chữ viết). Hán ngữ có rất nhiều phương ngữ (tiếng địa phương), tổng cộng có 7 phương ngữ lớn và hàng trăm phương ngữ nhỏ, người TQ phấn đấu đến năm 2020 mới phổ cập 100% tiếng Phổ thông thống nhất trong cả nước, nhưng tới nay mới đạt hơn 80%. Hán ngữ có rất nhiều chữ/từ đồng âm khó phân biệt khi nghe bằng tai, phải viết ra chữ mới phân biệt được. Bởi vậy chữ Hán có vai trò cực kỳ quan trọng. Nói đến Hán ngữ, chủ yếu là nói “chữ”, chứ không phải “tiếng”.

Nghiên cứu chữ Hán

Dưới đây trình bày quan điểm đại diện cho những kết quả mới nhất về nghiên cứu đánh giá chữ Hán. Qua đó có thể thấy hiện nay việc nghiên cứu chữ Hán đã thoát ra khỏi các hạn chế trước đây, đi lên con đường khoa học.

Học giả Nghê Hải Thự nói (7/1979): 

Trước đây nói không cải cách chữ viết thì không xóa được nạn mù chữ, không phổ cập được giáo dục… nay lại nói không cải cách chữ viết thì không thực hiện được hiện đại hóa. Nói như vậy phải chăng là thiếu phân tích. Các nước Mỹ Latinh đã cải cách chữ viết nhưng số người mù chữ còn rất nhiều… Đây là vấn đề chế độ giáo dục và chế độ xã hội. Một số nước chưa cải cách chữ viết như Nhật, Hàn Quốc đã thực hiện hiện đại hóa. Nhưng một số nước đã cải cách chữ viết như Mông Cổ, Indonesia, Việt Nam lại chưa thực hiện hiện đại hóa…. Phiến diện nói chữ Hán hoặc nói chữ phiên âm tốt, người ta đều không chịu. Chữ Hán có ưu điểm, chữ phiên âm có khuyết điểm, phải xem xét toàn diện. Thập niên 50 ta phiến diện phê bình, phủ định chữ Hán. Hồ Kiều Mộc nói chữ Hán như một đại thụ; anh phê bình chỗ lá này của nó không tốt, chỗ cành kia không tốt; sự phê bình ấy không rung chuyển được cái gốc của nó.

Năm 1985 Trương Chí Công nêu hai ưu điểm nổi trội của chữ Hán.

Thứ nhất, chữ Hán thích ứng với Hán ngữ, thể hiện trên hai mặt: Hán ngữ là ngôn ngữ phi hình thái, không dùng âm tố để biểu thị sự biến đổi hình thái; Hán ngữ chủ yếu là ngữ tố đơn âm tiết. Chính vì thế chữ Hán mới dùng một ký tự để biểu thị một âm tiết, một ngữ tố. Thích ứng với Hán ngữ là nguyên nhân căn bản nhất làm cho chữ Hán giàu sức sống. Nếu không thì chữ Hán không sống nổi. Thứ hai, không thể coi nhẹ tác dụng do “hình” của chữ Hán gây ra. “Hình” này có hai tác dụng lớn nhất: Có lợi cho việc đọc chữ; và nếu vận dụng tốt sẽ có lợi cho phát triển trí lực.

Ông Trương nói chữ Hán ít nhất có 2,5 khó khăn rất không dễ giải quyết:

1) Mới học (trong khoảng 500-1000 chữ) thấy khó, vì trong giai đoạn này chữ Hán rất khó liên hệ với ngôn ngữ. Mới học đã thấy khó, điều này làm tổn hại sự tự tin và tự tôn, hứng thú học của trẻ, ức chế sự phát triển trí lực.

2) Khó giao lưu văn hóa quốc tế. Ta không thể ép người nước khác học chữ Hán, hơn nữa chữ Hán không thể ghi được ngôn ngữ các nước; chữ Hán gây trở ngại cho việc giao lưu văn hóa với quốc tế. Ngoài ra, khó cơ giới hóa việc ghi và truyền chữ viết, mang lại rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng máy chữ, máy tính, máy telex, dịch máy. Sở dĩ nói đây là một nửa (0,5) khó khăn, vì khó khăn này có thể dần dần giải quyết bằng kỹ thuật, tuy sẽ mất nhiều công sức, thời gian… Tóm lại chữ Hán vừa có tính ưu việt vừa có những khuyết điểm khá nghiêm trọng. Cũng nên thấy rằng một số mặt lợi của chữ Hán đồng thời tất nhiên đem lại một số mặt bất lợi. Ví dụ tự hình có mặt lợi, nhưng cũng có mặt hại như sinh ra bệnh nhìn chữ đoán nghĩa, tạo thuận tiện cho việc tự bịa ra từ ngữ, dễ lẫn lộn văn ngôn với bạch thoại v.v…

Tháng 12/1986, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Lã Thúc Tương (1904-1998) nói:

Chữ Hán có ưu điểm cũng có khuyết điểm. Chữ phiên âm cũng vậy. Tôi cần nói rằng: thứ nhất, dù chữ Hán hay chữ phiên âm, ưu điểm và khuyết điểm của chúng đều gắn với nhau; thứ hai, ưu điểm của chữ Hán lại chính là khuyết điểm của chữ phiên âm; khuyết điểm của chữ Hán lại chính là ưu điểm của chữ phiên âm.

Chữ Hán có những ưu điểm: 1) Mỗi chữ Hán đại diện cho một ngữ tố trong Hán ngữ, nó tập hợp ba yếu tố tự hình, âm đọc chữ và nghĩa chữ (tự nghĩa) vào một, tiện cho việc độc lập sử dụng; 2) Âm như nhau mà nghĩa khác nhau, tiện cho việc phân biệt các chữ đồng âm; 3) Âm đọc chữ Hán khác nhau tùy theo địa phương, tùy theo thời đại, vì thế văn viết bằng chữ Hán thì nơi nào, thời nào cũng hiểu được. 4) Dùng chữ Hán in sách, phần chữ chiếm ít diện tích, tiết kiệm được giấy in.

Thế nhưng các ưu điểm trên cũng đem lại những khuyết điểm tương ứng. Thứ nhất, ưu điểm đầu tiên cũng là đặc điểm cơ bản nhất của chữ Hán, đem lại nhiều khuyết điểm: 1) Do tự hình không biểu thị âm đọc chữ (“Chữ hình thanh” thực sự cùng âm chỉ là số ít) và cũng chẳng thể nhìn tự hình là biết tự nghĩa, vì thế phải có thầy dạy từng chữ, không tiện cho việc tự học; 2) Vì một ngữ tố là một chữ nên số lượng chữ Hán vô cùng nhiều, việc phân biệt tự hình và nhớ âm đọc chữ cũng như tự nghĩa rất mất công sức; 3) Do cấu tạo của tự hình lắm hình lắm dạng nên rất khó thu xếp được một thứ tự vừa rõ ràng chính xác vừa giản tiện, vì thế gây bất tiện cho việc soạn từ điển, soạn biên mục (index).

Thứ hai, ưu điểm âm như nhau mà chữ khác nhau tuy có tiện cho việc phân biệt các chữ đồng âm nhưng cũng dễ làm người ta viết sai chữ. Phần lớn chữ viết sai là do âm đọc như nhau hoặc gần như nhau gây ra.

Thứ ba, ưu điểm “văn viết bằng chữ Hán thì nơi nào, thời nào cũng hiểu được” phải trả giá bằng việc chữ viết tách rời lời nói (khẩu ngữ). Âm đọc chữ Hán khác nhau tùy theo địa phương, điều đó khiến cho không thể dùng nó làm công cụ phổ cập tiếng Phổ thông. Bạch thoại và văn ngôn đều viết bằng chữ Hán, do đó dễ sinh ra loại chữ chẳng văn ngôn cũng chẳng bạch thoại, nửa văn ngôn nửa bạch thoại.

Thứ tư, dùng chữ Hán in sách có thể tiết kiệm giấy in nhưng khi đọc sách sẽ tốn công và hại mắt bởi lẽ cùng con chữ chì (để sắp chữ trên máy in cổ), chữ Hán nhiều nét, chữ phiên âm ít nét. Hiện nay học sinh từ tiểu học đến trung học có tỷ lệ đeo kính cận tăng theo sự lên lớp, điều đó có phần do sách giáo khoa và sách in dùng chữ cỡ nhỏ.

Chữ phiên âm có những ưu khuyết điểm: Thứ nhất, ứng với các khuyết điểm ở nhóm 1 của chữ Hán: 1) Chữ Hán nhìn mặt chữ mà không biết âm đọc và nghĩa của chữ. Trong chữ phiên âm, nếu biết đánh vần thì sẽ biết đọc âm của chữ, đọc được thì biết nghĩa của chữ; 2) chữ Hán phải phân biệt hàng nghìn tự hình còn chữ phiên âm chỉ cần phân biệt 26 chữ cái là được; 3) chữ Hán không có thứ tự cố định còn thứ tự của chữ phiên âm thì cố định; chữ dùng các chữ cái ghép lại đều có thứ tự cố định, rất tiện khi soạn tự điển, soạn biên mục (index). Thứ hai, chữ Hán có nhiều chữ đồng âm. Trong chữ phiên âm, do lấy từ làm đơn vị ghép vần nên ít chữ đồng âm (nếu không đánh dấu giọng thì cũng có khá nhiều chữ đồng âm, song vẫn ít hơn ở chữ Hán). Thứ ba, chữ Hán tách rời với lời nói còn chữ phiên âm kết hợp với tiếng nói nên có lợi cho việc phổ cập tiếng Phổ thông. Thứ tư, cùng một con chữ rời (để sắp chữ khi in), chữ cái phiên âm trông thanh thoát hơn (vì ít nét hơn chữ Hán).

Mọi người có thể từ các ưu điểm của chữ Hán mà suy ra khuyết điểm của chữ phiên âm, qua đó sẽ tự đánh giá tổng quan về hai thứ chữ này. Chú ý: trong chữ phiên âm không dễ phân biệt thấy ngữ tố của Hán ngữ. Nói chung một âm tiết đơn độc không thể biểu thị một ý nghĩa chính xác rõ ràng, nghĩa là không thể phân biệt các ngữ tố đồng âm….

Châu Hữu Quang (1906-2017, cha đẻ phương án Pinyin chữ Hán) nhận xét:

Bản thân chữ Hán có tính kỹ thuật và tính nghệ thuật. Người coi trọng tính kỹ thuật chủ trương cải cách chữ Hán. Người coi trọng tính nghệ thuật không muốn cải cách chữ Hán. Bất cứ chữ viết nào cũng có tính hai mặt, nhưng chữ phiên âm có tính kỹ thuật mạnh mà tính nghệ thuật yếu. Chữ Hán yếu tính kỹ thuật, mạnh tính nghệ thuật. Đó là do chữ viết càng gần hình vẽ nguyên thủy thì tính nghệ thuật càng mạnh; càng xa hình vẽ nguyên thủy thì tính nghệ thuật càng yếu. Chữ phiên âm cách hình vẽ nguyên thủy rất xa, “gene nghệ thuật” trở nên yếu, cho nên tuy chữ phiên âm cũng cần viết cho ưa nhìn, nhưng “nghệ thuật thư pháp” của nó không thể phát triển được. Khi kỹ thuật viết chữ từ viết tay tiến lên đánh máy rồi xử lý trên máy tính thì “nghệ thuật thư pháp” viết tay bị thoái hóa. Chữ Hán thì khác, nó cách hình vẽ nguyên thủy không xa cho nên “gene đồ họa” của nó không bị thoái hóa. Vì vậy sau khi các “chữ viết ý âm” (như chữ hình nêm, chữ Thánh thư) rút ra khỏi sân khấu lịch sử thì “nghệ thuật thư pháp” của chữ Hán thực sự một mình chiếm vũ đài. Nhưng vì thế mà nó mang lại tác dụng phụ như yêu thích lệch về nghệ thuật, coi nhẹ kỹ thuật, ưu thế nghệ thuật của chữ Hán đã che lấp nhược điểm về kỹ thuật. Trong thời gian chuyển tiếp từ văn minh cổ đại sang văn minh hiện đại, tính hai mặt của chữ Hán còn thể hiện ở mâu thuẫn giữa hai loại văn minh. Chữ Hán vừa là “báu vật” của văn minh cổ đại lại vừa là “gánh nặng” của văn minh hiện đại. Khi đã nhận thức được như vậy thì rất khó có thể lại khẳng định chữ Hán chỉ là “báu vật” mà không phải là “gánh nặng”.

Nhìn chung quan điểm của Châu Hữu Quang được nhiều người tán thành.

Tóm lại, người xưa cho rằng chữ Hán là “báu vật”, còn giới học giả TQ hiện đại cho rằng chữ Hán vừa là “báu vật” vừa là “gánh nặng”. Dư luận TQ phổ biến coi sự chuyển biến này trong nhận thức đánh giá chữ Hán là một bước tiến.

Biên bản Hội nghị thảo luận học thuật vấn đề chữ Hán (12/1886) viết: Nhiều người có xu hướng sử dụng “Nhất ngữ lưỡng văn” [tức “chế độ Song văn”. Nhất ngữ: phổ cập một thứ tiếng Phổ thông trong cả nước. Lưỡng văn hoặc song văn: đồng thời dùng hai thứ chữ viết, là chữ Hán và chữ Pinyin Latin hóa; chữ Pinyin chỉ dùng với tính chất phụ trợ để ghi âm đọc của chữ Hán]. Từ nay Nhà nước không đặt vấn đề cải cách chữ Hán theo hướng phiên âm hóa nữa, coi đó là việc của các học giả; tương lai của chữ Hán sẽ do con cháu sau này quyết định.

Thế hệ trẻ người TQ hiện nay đều được học và nắm được chữ Hán cùng chữ Pinyin Hán ngữ, thể hiện qua việc họ dùng thành thạo máy tính và điện thoại thông minh để đánh máy chữ Hán. Điều đó cho thấy chủ trương sử dụng “Nhất ngữ lưỡng văn” là đúng đắn và được dân chúng hoan nghênh.

Tài liệu tham khảo chính: Nghiên cứu chữ Hán hiện đại của thế kỷ 20 của Tô Bồi Thành (Nxb Thư Hải, 8/2001) và một số tài liệu trên mạng TQ.

Viết một bình luận